23:33 ICT Thứ ba, 26/09/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 45

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 44


Hôm nayHôm nay : 1600

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 52607

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1585494

Đăng nhập thành viên

Trang nhất » Kiến thức KTTV » Phổ biến kiến thức về khí tượng

Câu hỏi về bão và áp thấp nhiệt đới

Thứ ba - 16/09/2014 10:19
Câu hỏi về bão và áp thấp nhiệt đới

Câu hỏi về bão và áp thấp nhiệt đới

HỎI - ĐÁP VỀ BÃO, ÁP THẤP NHIỆT ĐỚI (43 câu)
Câu 1: Bão, áp thấp nhiệt đới là gì ?
          Cross section of a typical hurricane
Hình 1. Cấu trúc đặc trưng của bão
 
Bão và ATNĐ được gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ): là một vùng gió xoáy, có đường kính tới hàng trăm kilômét, hình thành trên vùng biển nhiệt đới. Ở bắc bán cầu, gió thổi xoáy vào trung tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Áp suất khí quyển trong bão thấp hơn rất nhiều so với xung quanh và thường thấp hơn 1000mb. Bão, ATNĐ có thể xem như một chiếc bánh khổng lồ, khi cắt đôi chiếc bánh đó ta thấy bên trong nó cũng có nhân bánh đó là mắt bão và thành mắt bão (xem hình 1).
Như vậy có thể xem bão là một trận gió xoáy từ các phía thổi vào vùng trung tâm bão, càng gần trung tâm thì gió càng mạnh, có khi lên đến vài trăm cây số một giờ, nhưng chính giữa lại là một vùng gió tương đối nhẹ hay lặng gió gọi là mắt bão. Không khí chung quanh dồn vào giữa không phải theo những đường thẳng mà theo hình xoắn ốc. Ở Bắc bán cầu, gió xoáy thổi ngược chiều kim đồng hồ. Trong một trận bão, ở tầng gần mặt đất không khí bốn bề chạy vào giữa, đến vùng giữa bão thì không khí thổi lên cao, lên đến các tầng cao hơn nữa thì tỏa ra tứ phía. Bão bắt nguồn từ các vùng biển nhiệt đới, bão chuyển động một khối không khí ẩm rất lớn. Không khí ẩm đó càng lên cao thì hơi nước mà nó chứa đọng lại thành mây và mưa càng nhiều, cho nên vùng bão không những có gió mạnh mà lại có mây đặc phủ kín và mưa nhiều.
Câu 2: Vì sao bão có tên và chúng được đặt tên như thế nào ?
Bão có nhiều cách gọi khác nhau tùy thuộc vào khu vực phát sinh bão:
+ Bão hình thành trên biển Đại Tây Dương:  gọi là Hurricanes
+ Bão hình thành trên biển Thái Bình Dương: gọi là Typhoon
+ Bão hình thành trên biển Ấn Độ Dương:  gọi là Tropical Cyclones
Các cơn bão có thể tồn tại trên biển trung bình từ 7 – 8 ngày hoặc thậm chí lâu hơn. Trên cùng một khu vực, cùng một thời gian có thể có từ 2 đến 3 cơn bão tồn tại, thậm chí có thể nhiều hơn. Vì vậy người ta phải nghĩ ra cách đặt tên cho các cơn bão để tránh nhầm lẫn trong việc đưa ra các thông tin về từng cơn bão. 
Trong thời gian xảy ra chiến tranh Thế giới thứ II, các nhà Khí tượng Lục quân và Hải quân Mỹ đã dùng tên của phụ nữ để đặt tên cho các cơn bão. 
Các cơn bão ở Đông Bắc Thái Bình Dương được đặt theo tên phụ nữ từ năm 1959 – 1960 và đến năm 1978 sử dụng cả tên nữ giới và nam giới.
Ở vùng Bắc Ấn Độ Dương, các cơn bão nhiệt đới không được đặt tên. Ở Tây Nam Ấn Độ Dương bão bắt đầu được đặt tên từ 1960.
Ở vùng Australia và nam Thái Bình Dương, bão bắt đầu được đặt tên (theo tên phụ nữ) từ năm 1964  và sau đó 10 năm thì sử dụng cả tên nam giới.
Câu 3: Trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (bao gồm cả biển Đông) tên bão được đặt như thế nào và nước nào có quyền đặt tên cho các cơn bão ?
Các cơn bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dương (bao gồm cả Biển Đông của Việt Nam) được đặt tên theo tên phụ nữ chính thức bắt đầu từ năm 1945, và đến năm 1979 thì bắt đầu sử dụng cả tên của nam giới.
Từ ngày 010/1/2000 các cơn bão ở Tây bắc Thái Bình Dương được đặt tên theo danh sách các tên mới và rất khác nhau. Các tên mới được bổ sung gồm các tên của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, được lấy từ 14 nước và vùng lãnh thổ là thành viên Uỷ ban bão của Tổ chức Khí tượng Thế giới. Mỗi thành viên cung cấp 10 tên, tạo thành danh sách 140 tên bão.
Các cơn bão hình thành trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương được Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO: World Meteorological Organization) ủy quyền cho Trung tâm Báo bão nhiệt đới Tokyo thuộc Cơ quan khí tượng Nhật bản đặt tên.
Danh sách các tên bão mới có hai sự khác biệt so với trước đây là
Thứ nhất: Rất ít tên bão là tên riêng của người mà phần lớn là tên các loài hoa, các động vật, các loài chim, các loài cây cỏ và thậm chí là tên các món ăn. 
Thứ hai: Danh sách tên bão không được sắp xếp theo thứ tự các chữ cái mà sắp xếp theo thứ tự chữ cái của tên các nước đóng góp tên.
Một điều cần lưu ý ở đây là sau một vài năm tổng kết, với các cơn bão gây ra thiệt hại nặng nề cho các nước đóng góp tên thì tên các cơn bão đó sẽ được đưa ra khỏi danh sách tên bão và được thay thế bằng một tên mới. Do vậy danh sách các tên bão trên là không cố định và luôn có sự bổ sung.
Câu 4: Dựa vào đâu để có thể phân loại bão, áp thấp nhiệt đới ?
 Dựa vào tốc độ gió mạnh nhất ở vùng gần trung tâm xoáy thuận nhiệt đới, Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) quy định phân loại xoáy thuận nhiệt đới như sau:
Bảng 1. Phân loại bão theo sức gió mạnh nhất và mức độ ảnh hưởng
Cấp bão Gió cực đại
(km/h)
Cấp gió
(beaufort)
Mức độ ảnh hưởng
(do sức gió)
Áp thấp nhiệt đới
(Tropical Depression)
39 - 61 6 – 7 Cây cối rung chuyển, khó đi ngược gió. Biển động
Bão
(Tropical Storm)
62 – 88 8 – 9 Bẻ gẫy cành cây lớn, tốc mái nhà, không thể đi ngược gió. Biển động rất mạnh.
Bão mạnh
(Severe Tropical Storm)
89 – 117 10 - 11 Làm đổ cây cối, nhà cửa, cột điện, gây thiệt hại rất nặng. Biển động dữ dội làm đắm tàu thuyền
Bão rất mạnh
(Typhoon / Hurricane)
³ 118 ³ 12 Sức phá hại cực kỳ lớn. Sóng biển cực kỳ mạnh làm đắm tàu biển có trọng tải lớn
Tốc độ gió mạnh nhất vùng gần trung tâm (tốc độ gió cực đại) được quy định khác nhau ở mỗi nước. Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) quy định lấy tốc độ gió mạnh nhất duy trì liên tục trong thời gian 10 phút (sử dụng trong các bản tin của Nhật và Hồng Kông), Cơ quan dự báo bão của Hải quân Mỹ lấy tốc độ gió mạnh nhất duy trì liên tục trong thời gian 1 phút. Việt Nam tốc độ gió mạnh nhất được lấy trong 2 phút. Phòng Khí tượng Úc lấy tốc độ gió giật mạnh nhất chứ không lấy gió cực đại duy trì liên tục. Chính sự khác nhau này nên khi đánh giá cường độ bão là có sự khác nhau. Qua nhiều hội nghị các chuyên gia WMO đã đề xuất xác định các hệ số chuyển đổi vào 2004. Các tác giả Mỹ cho biết rằng do sự khác nhau về thời gian lấy trung bình mà cường độ báo bão của các nước khác thấp hơn của Mỹ khoảng 12%. Quy chế báo bão, ATNĐ, lũ của Việt Nam dùng thuật ngữ "gió mạnh nhất" (tức gió cực đại) và "có thể có gió giật", mà không dùng thuật ngữ "duy trì liên tục" (sustained), nên phải hiểu đó là gió mạnh nhất khi quan trắc theo quy phạm quan trắc bề mặt
Có thể hiểu thêm cách phân cấp cường độ bão của Mỹ ở bảng dưới
Phân loại Cường độ Gió mạnh nhất trung bình trong 1 phút
Knots Km/h
Tropical Depression TD < 34 < 63
Tropical Storm TS 34 -63 63 -118
Typhoon Cat 1 64 - 82 119 – 153
Typhoon Cat 2 83 - 95 154 – 177
Typhoon Cat 3 96 - 113 178 – 210
Typhoon Cat 4 114 - 135 211 – 250
Super Typhoon Cat 5 > 135 > 250
 
Câu 5: Trong các bản tin báo bão thường thấy nói là tốc độ gió mạnh nhất vùng gần tâm, vậy tại sao gió trong bão lại mạnh nhất vùng gần tâm ?
Nếu đi từ ngoài vào trong một cơn bão thì đầu tiên ta sẽ bắt gặp các dải mây mưa ở rìa ngoài của bão (đi vào vùng này tốc độ gió tăng lên đột ngột) và có thể trải cách xa tâm bão hàng trăm kilômét. Những dải mây này chuyển động xoáy trôn ốc theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, có độ rộng từ khoảng vài kilômét đến vài chục kilômét. Các dải mây này được tạo thành từ nhiều khối mây đối lưu phát triển mạnh, ở nhiều giai đoạn khác nhau và liên kết với nhau chặt chẽ, có sắp xếp, có tổ chức. Xen kẽ giữa các dải mây, mưa kèm theo gió mạnh gây ra mưa to, gió lớn là những vùng gió không mạnh và mưa không nhiều tạo thành từng đợt, từng đợt mưa. Đây là đặc trưng thường thấy trong vùng ảnh hưởng của bão, tạo cơ sở cho việc phòng tránh trên thực tế.
Tiếp tục đi sâu vào bên trong sẽ bắt gặp một tường mây dày đặc gồm các đám mây dông phát triển lên rất cao. Đi vào khu vực này tốc độ gió tăng lên đột ngột và đạt giá trị mạnh nhất trong bão. Mắt bão có thể to ra, thu hẹp lại hay nhân đôi lên và có thể tạo nên nhiều vòng thành mắt bão. Sự biến đổi của mắt bão và thành mắt bão gây nên các biến đổi về tốc độ gió và cường độ bão
Trong cùng là mắt bão, là một vùng tương đối lặng gió, quang mây. Do lực ly tâm làm không khí trong vùng trung tâm bão giãn ra nên mật độ không khí ở đây rất thấp và khí áp giảm xuống thấp nhất. Đường kính trung bình của mắt bão khoảng 30 - 60 km. Khi ở trong khu vực mắt bão, người ta thường rất ngạc nhiên khi thấy gió và mưa đang xảy ra rất dữ dội lại đột nhiên ngừng hẳn, trời quang mây tạnh. Nhưng ngay khi mắt bão đi qua gió mạnh và mưa xuất hiện lại ngay, cũng đột ngột như trước khi mắt bão đi qua, nhưng với hướng ngược lại. Trong thực tế phải hết sức chú ý đến hiện tượng này trong phòng, tránh bão vì dễ tạo tâm lý chủ quan khi cho rằng bão đã đi qua và không cần phòng, tránh.  
Câu 6: Có phải tốc độ di chuyển của bão chính là tốc độ gió mà bão sinh ra không ? Dựa vào tốc độ di chuyển của bão có thể nhận định được hướng di chuyển của bão không ?
Đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Không nên nhầm lẫn tốc độ di chuyển của bão với tốc độ gió mà bão sinh ra. Trong một cơn bão tốc độ gió mạnh nhất vùng gần tâm bão có thể đạt tới 200 km/h đối với những cơn bão mạnh và không nhỏ hơn 65 km/h đối với nhưng cơn bão yếu.
Tốc độ di chuyển của bão là tốc độ di chuyển của cả khối không khí khổng lồ xung quanh tâm bão. Trên biển Đông, bão thường di chuyển với tốc độ trung bình khoảng 10 – 25 km/h và mỗi ngày có thể vượt qua một quãng đường khoảng 500km. Còn khi bão di chuyển nhanh tốc độ di chuyển có thể đạt tới 30 – 35 km/h.
Một cách tương đối có thể hiểu khi bão di chuyển nhanh với tốc độ ổn định thì quỹ đạo của bão hầu như không thay đổi. Khi bão di chuyển chậm lại và có lúc gần như đứng yên thì có thể sẽ xảy ra khả năng bão sẽ đổi hướng di chuyển và sau khi đổi hướng bão lại đi nhanh lên.
Tốc độ và hướng di chuyển của bão phụ thuộc vào sự tương tác rất phức tạp giữa hoàn lưu gió xoáy nội tại của cơn bão và hoàn lưu khí quyển xung quanh. Có thể coi khối không khí xung quanh cơn bão như là một “dòng sông” không khí luôn chuyển động và biến đổi. Các đặc điểm khác của “dòng sông” này như các hệ thống áp cao và áp thấp có thể làm thay đổi một cách đáng kể tốc độ và hướng đi của bão, đặc biệt là khi có không khí lạnh tràn xuống miền Bắc nước ta. Ngược lại, cơn bão cũng có thể làm biến đổi môi trường không khí xung quanh nó. Chính vì thế, sự di chuyển của bão chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố.
Câu 7: Tại sao bão lại chuyển động xoay tròn theo một hướng ngược chiều kim đồng hồ ?
Bão chuyển động xoay tròn theo một hướng là do sự cân bằng của các lực tác động trong khí quyển. Trên thực tế có 3 lực chính tác động lên một cơn bão: Lực gradien khí áp, lực coriolis và lực ly tâm.
- Lực gradien khí áp làm cho không khí di chuyển từ nơi có khí áp cao đến nơi có khí áp thấp hơn (giống như nước chảy từ chỗ đất cao đến chỗ đất thấp, hay giống như viên bi lăn trên mặt bàn bị nghiêng). Trong cơn bão khí áp thấp nhất ở tâm nên không khí chuyển động về phía đó.
- Lực coriolis sinh ra do sự tự quay quanh trục của trái đất. Lực này làm cho gió lệch về phía phải (ở bắc bán cầu). Vì vậy khi không khí chuyển động về phía tâm bão, nó cũng bắt đầu di chuyển hướng về phía bên phải. Do đó không khí chuyển động xung quanh tâm bão có chiều ngược chiều kim đồng hồ.
- Lực ly tâm đẩy không khí chuyển động văng ra phía ngoài khi bão đang quay.
Như vậy trong khi lực gradien khí áp đẩy gió về phía khí áp thấp (trung tâm) thì lực ly tâm lại đẩy nó ra phía ngoài, chính vì vậy không khí trông giống như đang chuyển dộng xoay tròn.
Câu 8: Các điều kiện cần thiết cho quá trình hình thành và phát triển của một cơn bão?
Từ đặc điểm trong cấu trúc của bão và từ thực tế quan trắc về bão, có thể rút ra các điều kiện cần thiết cho sự hình thành bão như sau:
a. Không khí thăng lên trong bão phải nóng hơn không khí ở môi trường xung quanh và trong dòng không khí thăng lên phải rất giàu hơi ẩm. Vì thế trên thực tế bão chỉ có thể hình thành và phát triển trên các đại dương và vùng biển thoáng. Vào năm 1948, nhà khí tượng Erik Palmen đã tìm ra rằng, bão và áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành và phát triển khi nhiệt độ nước biển đạt ít nhất 26 - 27oC. Giá trị nhiệt độ 26 - 27oC có liên quan đến quá trình đối lưu của khí quyển. Điều này giải thích tại sao mùa bão chủ yếu thiên về thời kỳ cuối mùa nóng khi nhiệt độ mặt nước biển là cao nhất.
b. Chuyển động xoáy vào tâm là phần cơ bản của hoàn lưu bão. Sở dĩ bão không thể hình thành và phát triển ở các vùng gần xích đạo (dưới 50N) vì ở đó lực Coriolis quá yếu, không đủ để duy trì và phát triển xoáy.
c. Bão thường hình thành và phát triển trên nền dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ), trong các nhiễu động của sóng đông… Những kết quả nghiên cứu của Gray (1968) cho thấy ở khu vực tây bắc Thái Bình dương có tới 85 – 90% số cơn bão hình thành trên ITCZ .
Câu 9: Tại sao bão, áp thấp nhiệt đới không thể hình thành và phát triển trên khu vực gần xích đạo mặc dù khu vực này đáp ứng đủ điều kiện nhiệt ẩm ?
Như chúng ta đều biết bão, áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành và phát triển một cách tương đối nhờ vào 2 điều kiện cơ bản là điều kiện nhiệt lực (nhiệt độ và độ ẩm đủ lớn) và điều kiện động lực (chuyển động xoáy vào tâm của khối không khí xung quanh tâm bão).
Khác với các nhiễu động khác ở vùng nhiệt đới, chuyển động xoáy là thành phần cơ bản của hoàn lưu khối không khí quanh tâm bão. Lực cơ bản gây ra chuyển động xoáy vào tâm trong bão là lực Coriolis lại quá yếu khi đến gần khu vực từ 50S đến 50N và giảm xuống bằng 0 khi ở ngay xích đạo Vì thế mặc dù trên khu vực gần xích đạo đảm bảo có các điều kiện nhiệt, ẩm (vùng biển nóng) cho sự hình thành bão, áp thấp nhiệt đới nhưng lại không đảm bảo điều kiện động lực tạo chuyển động xoáy nên bão, áp thấp nhiệt đới không thể hình thành và phát triển trên khu vực gần xích đạo.
Giả sử có một vùng áp thấp hình thành ở khu vực gần xích đạo, nhưng do lực Coriolis quá yếu, không thể cân bằng được với lực gradient khí áp của vùng áp thấp để tạo ra chuyển động xoáy thuận làm cho vùng áp thấp duy trì và phát triển nên vùng áp thấp này bị không khí xung quanh ùa thẳng vào trung tâm  dẫn đến vùng áp thấp suy yếu nhanh chóng và biến mất.
Câu 10: Có phải kích thước của bão càng lớn thì cường độ của bão càng mạnh?
Hình dưới minh họa cho 3 cơn bão có kích thước khác nhau. Ba cơn bão A, B, C trên hình tuy không xảy ra đồng thời cùng một lúc nhưng được tái tại trên ảnh bằng kỹ thuật ghép hình để thấy được kích thước của các cơn bão.
Từ hình minh họa trên cho thấy trong thực tế các cơn bão có kích thước rất khác nhau, có thể thấy bán kính đĩa mây của bão A nhỏ bằng một nửa bán kính đĩa mây của bão C. Trung bình đường kính của một cơn bão vào khoảng 300 – 500 km, nhưng có thể có những biến đổi đáng kể.

Hình 2. Ví dụ minh họa kích thước đặc trưng của bão.
 
Một điều có thể khẳng định chắc chắn rằng kích thước của bão không tỷ lệ thuận với cường độ của bão và không thể hiện cho cường độ bão, không phải cơn bão nào có kích thước lớn đều là những cơn bão có cường độ mạnh và gây ra mức độ tàn phá lớn. Cơn bão số 6 (XANGSANE) tháng 10/2006 đổ bộ vào Đà Nẵng gây thiệt hại nặng nề cho thành phố Đà Nẵng có phạm vi bán kính gió mạnh rất nhỏ. Theo số liệu ghi lại được bán kính trên cấp 10 của cơn bão chỉ khoảng 80km nhưng đã gây ra gió mạnh cấp 13 ở thành phố Đà Nẵng. Cơn bão ANDREW năm 1992 là cơn bão rất mạnh, có sức tàn phá khủng khiếp nhất trong thế kỷ vừa qua chỉ có kích thước tương đối nhỏ.
Câu 11: Trong thực tế khi nghe thông tin về một cơn bão, nhiều người cho rằng bão chỉ là một điểm và chỉ chú ý đến vị trí của cơn bão. Điều này có đúng không ?
Trong thực tế, khi nghe thông tin về một cơn bão, nhiều người cho rằng bão chỉ là một điểm và chỉ chú ý tới vị trí tâm bão và đường đi của tâm bão mà quên mất rằng gió mạnh và mưa lớn thường bao phủ một vùng rộng lớn xung quanh tâm bão. Đây là một quan điểm rất sai lầm, nhiều cơn bão khi tâm còn nằm ngoài biển nhưng vùng gió mạnh và mưa lớn do bão gây ra đã vào sâu trong đất liền (Cơn bão số 2 năm 2004 có tên quốc tế là CHANTHU lúc 9h30 sáng ngày 12/6/2004. Tâm bão vẫn nằm ở ngoài biển nhưng vùng có gió mạnh cấp bão đã vào sâu trong đất liền). Gió bão mạnh (trên cấp 10) có thể trải rộng trong một vùng khoảng 50 km xung quanh tâm bão đối với một cơn bão nhỏ, và có thể rộng tới hơn 150 km đối với một cơn bão lớn. Khu vực có gió mạnh trên cấp 7 còn trải rộng hơn nữa, có thể cách tâm bão tới 500 km trong một cơn bão lớn.
                    
Hình 3. Ví dụ minh họa phạm vi ảnh hưởng của bão
 
Khi bão còn đang trong giai đoạn trưởng thành, ở trên biển thoáng và đứng yên hay ít di chuyển, tức là ảnh hưởng của môi trường xung quanh đối với cơn bão là cân bằng nên vùng gió mạnh xung quanh tâm bão có thể xem là tương đối tròn. Khi cơn bão di chuyển, chứng tỏ môi trường xung quanh đã có tác động không cân bằng tới nó, hoặc khi cơn bão bị ảnh hưởng của địa hình hay đang suy yếu, đặc biệt khi có sự kết hợp với một hệ thống thời tiết khác (ví dụ như không khí lạnh)… thì nói chung vùng gió mạnh xung quanh tâm bão sẽ không còn tròn nữa và trở nên phức tạp (xem hình minh họa). Khi bão kết hợp với một hệ thống thời tiết khác thì khi còn cách rất xa tâm bão gió đã rất mạnh, tiếp đến gió lại yếu dần đi một cách nhanh chóng. Nhiều người cho rằng bão đã qua và chủ quan trong phòng chống. Nhưng thực sự sau đó gió lại mạnh trở lại, đây mới chính là lúc bão ảnh hưởng. Trên thực tế đã nảy sinh trường hợp nhiều người dân cho rằng bão quay trở lại. Cần phải hiểu đúng vấn đề này để tránh chủ quan trong phòng chống bão.
Câu 12: Vậy trong vùng gió mạnh xung quanh tâm bão, khu vực nào có gió mạnh hơn cả ?
Khối không khí xung quanh tâm bão có sự phân phối gió không đều, có chỗ gió rất mạnh, có chỗ gió không mạnh. Người ta thường phân biệt hai khu vực, bên phải và bên trái đường đi của cơn bão. Nửa bên phải gió to hơn cả cho nên người đi biển gọi là tử điạ. Trong khu vực này góc đàng sau thường có gió mạnh hơn góc đàng trước, tàu biển vào đó thì sẽ bị lôi cuốn vào trung tâm không ra được
Dọc theo quỹ đạo đường đi của bão thì vùng phía bắc của bão là vùng nguy hiểm nhất với gió mạnh kèm theo mưa to, các cơn dông, lốc cục bộ và hiện tượng nước biển dâng cao dưới tác động của gió đẩy mạnh vào bờ.
Trên hình 4, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra vùng gió mạnh phía bắc của bão là do tác động tổng cộng của gió xoáy trong bão và gió của dòng môi trường xung quanh. Một cách cụ thể có thể thấy, tại điểm A gió bão gần như cùng hướng với gió của môi trường, tác động cộng hưởng của chúng khiến cho gió ở đây mạnh lên. Ví dụ: nếu dòng môi trường có tốc độ là 15 km/giờ, gió bão trung bình là 100 km/giờ, tốc độ gió tại điểm A sẽ có độ lớn là 100 + 15 = 115 km/giờ. Ngược lại, tại điểm B, gió bão ngược chiều với gió của môi trường, kết quả là gió ở đây chỉ có độ lớn là 100 – 15 = 85 km/giờ. Khi cơn bão di chuyển càng nhanh thì hiệu ứng này càng rõ rệt.

Hình 4. Vùng gió mạnh phía bắc của bão
 
Nguyên nhân thứ hai là ở phía bắc cơn bão thì gió thổi thẳng từ biển vào, không bị núi đồi, cây cối, nhà cửa cản bớt nên mạnh hơn nhiều so với gió ở phía nam cơn bão thổi từ đất liền ra, đã bị suy giảm do địa hình. Ngoài ra, nếu bão đổ bộ, hay ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta cùng đồng thời với lúc có gió mùa đông bắc tràn xuống thì gió phía bắc của bão lại càng mạnh hơn và mưa càng lớn hơn do sự kết hợp của hai hệ thống thời tiết nguy hiểm này.
Câu 13: Tại sao khi đi vào đất liền thì bão, áp thấp nhiệt đới thường bị suy yếu và tan đi, trong khi đó vùng áp thấp thì lại không ?
Nguyên nhân chính là do sự khác nhau về điều kiện hình thành và phát triển giữa bão, áp thấp nhiệt đới và vùng áp thấp thông thường. Điểm giống nhau là cả hai đều là những vùng có khí áp ở vùng trung tâm là thấp nhất và có gió thổi xoáy vào trung tâm.
Nhưng sự khác biệt cơ bản là: nguồn gốc hình thành và phát triển bão, áp thấp nhiệt đới là trên các vùng biển nóng (từ 260C - 270C), một trong những nguồn năng lượng chính nuôi sống chúng là điều kiện nhiệt và ẩm (mà chỉ trên biển mới có), khi vào đất liền, nguồn năng lượng đó không còn được duy trì, vì thế nó suy yếu đi nhanh chóng và dần dần tan đi.
Ngược lại, các vùng áp thấp thông thường có thể hình thành ngay trên đất liền hoặc trên biển, điều kiện tồn tại và phát triển của chúng không phụ thuộc vào nguồn năng lượng mà đại dương cung cấp, nó chỉ phụ thuộc chính vào hoàn lưu khí quyển ở các mực trên cao, chính vì thế dù chúng ở trên biển hay khi đi vào đất liền thì cường độ của chúng không hề suy giảm.
Câu 14: Có phải khi đi vào đất liền do ma sát trên mặt đất làm xoáy thuận nhiệt đới tan đi hay không ?
Không phải như vậy. Trong suốt quá trình đổ bộ, ma sát mặt đất tăng lên, có điều gì đó mâu thuẫn với sự yếu đi của gió mạnh nhất trong bão và sự mạnh lên của gió giật mặt đất. Gió mạnh nhất (tính trung bình trong 2 phút ở Việt Nam) bị giảm do ảnh hưởng của sự gồ ghề lớn trên bề mặt đất (như các bụi rậm, cây cối, nhà cửa). Gió giật mạnh lên do sự nhiễu động tăng/sự xáo trộn lên làm cho gió thổi mạnh xuống bề mặt trong một thời gian rất ngắn (chỉ vài giây).
Tuy nhiên chỉ sau vài giờ, bão, áp thấp nhiệt đới trên mặt đất sẽ bắt đầu suy yếu nhanh – không phải do ma sát – mà do nó thiếu nguồn ẩm và nhiệt nuôi dưỡng mà đại dương cung cấp. Sự thiếu hụt ẩm và nhiệt này làm mất khả năng gây ra dông ở gần tâm bão. Không có đối lưu này, cơn bão sẽ đầy lên nhanh (yếu đi nhanh).
Trong một mô phỏng số trị trước đây đã chỉ ra rằng một cơn bão mạnh khi đổ bộ vào một khu vực rất ẩm đến mức quá trình bốc hơi bề mặt xảy ra liên tục thì cơn bão đó có thể sẽ mạnh lên. Tuy nhiên một nghiên cứu gần đây về các điều kiện bề mặt cho thấy rằng mặc dù ở trên một khu vực rất ẩm ướt, cơn bão mạnh vẫn có thể bị suy yếu do thiếu nguồn nhiệt. Thực tế, đã xảy ra trường hợp cơn bão Andrew khi đi qua các khu vực rất ẩm ướt ở phía nam của Florida, cơn bão mạnh này đã yếu đi một cách đột ngột: Gió mạnh nhất gần tâm giảm khoảng 33%, khí áp thấp nhất trung tâm tăng lên 19mb.
Câu 15: Trong các bản tin dự báo bão tôi thường nghe thấy cụm từ “tốc độ di chuyển của bão”. Vậy có thể hiểu tốc độ ở đây là như thế nào và bằng cách nào để có thể xác định được tốc độ di chuyển của bão ?
Tốc độ di chuyển của bão được xác định là tốc độ chuyển động trung bình của cơn bão trong thời hạn 12 hoặc 24 giờ tới. Trong khoảng thời gian đó có những lúc bão có thể chuyển động nhanh hơn hay chậm hơn giá trị trung bình. Trong trường hợp tốc độ chuyển động trung bình của bão nhỏ hơn 5 km/h và có hướng không xác định khi đó sẽ coi bão hầu như ít di chuyển. Trên thực tế các bản tin dự báo bão của Việt nam trung bình được cập nhật 3h một lần, những thay đổi trong tốc độ di chuyển của bão cũng sẽ được cập nhật liên tục để đảm bảo cho độ chính xác của các bản tin dự báo được chính xác hơn.
Có nhiều công cụ để xác định tốc độ di chuyển của một cơn bão. Một trong những công cụ chính cho vấn đề này là ảnh mây vệ tinh có độ phân giải cao. Sử dụng ảnh mây vệ tinh các chuyên gia dự báo bão có thể vẽ ra được đường đi (quĩ đạo) của cơn bão, từ đó theo dõi và chấm được vị trí của tâm bão sau mỗi thời đoạn nhất định. Từ khoảng cách giữa các vị trí tâm bão và khoảng thời gian di chuyển (12h hoặc 24h) người ta xác định được tốc độ di chuyển của cơn bão (khoảng cách/thời gian).
Câu 16: Hướng di chuyển của bão được dự báo theo bao nhiêu hướng. Trong thực tế khi nghe thông tin về một cơn bão thấy dự báo theo một hướng nhưng thực tế lại đi theo một hướng khác, điều này giải thích thế nào ?
          Hướng di chuyển của bão được dự báo theo 16 hướng chính như hình minh họa bên dưới
B – Bắc     BĐB – Bắc Đông Bắc        ĐN – Đông Nam           TTN – Tây Tây Nam
N – Nam      ĐB – Đông Bắc             NĐN – Nam Đông Nam  TTB – Tây Tây Bắc
Đ – Đông  ĐĐB – Đông Đông Bắc   NTN – Nam Tây Nam        TB – Tây Bắc
T – Tây     ĐĐN – Đông Đông Nam   SW – Tây Nam               BTB – Bắc Tây Bắc
Ngoài ra, trong các bản tin dự báo bão cũng có những trường hợp dự báo hướng di chuyển là sự kết hợp giữa hai góc hướng với nhau, ví dụ như “giữa Tây Tây Bắc và Tây Bắc", khi đó hướng di chuyển sẽ được dự báo theo hướng mũi tên xanh, đứt nét.
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hình 5. Mô phỏng hướng di chuyển của bão
 
Như chúng ta đều biết bão là một cột không khí khổng lồ chuyển động xoáy vào tâm theo chiều ngược chiều kim đồng hồ (ở Bắc bán cầu), sự di chuyển của bão là sự vận động của cả cột không khí đó. Do là chuyển động xoáy tịnh tiến về phía trước của bão nên trong thực tế đường đi của bão là rất dích dắc. Dự báo hướng di chuyển của bão cũng giống như dự báo tốc độ di chuyển được xác định là hướng di chuyển trung bình (hướng chủ đạo) của cơn bão trong thời hạn 12h hoặc 24h. Trong khoảng thời gian đó cũng có những lúc bão có thể di chuyển lệch ra khỏi hướng di chuyển trung bình. Tuy nhiên độ lệch này không được quá lớn. Trong trường hợp tốc độ chuyển động trung bình của bão chậm và có hướng không xác định khi đó sẽ coi bão hầu như ít di chuyển.
Câu 17: Trong các bản tin dự báo bão tôi thường nghe thấy cụm từ “bão ảnh hưởng" và “bão đổ bộ". Vậy hai cụm từ này có phải là một hay không ?
Trong các bản tin dự báo bão có nhắc đến các khu vực chịu ảnh hưởng của bão, khu vực đổ bộ của bão (khu vực vùng trung tâm bão đi qua), tuy nhiên chúng ta không nên nhầm lẫn giữa hai khái niệm bão ảnh hưởng và bão đổ bộ.
Bão đổ bộ được xem như vùng trung tâm bão đã đi vào đất liền trên một khu vực nào đó. Một khu vực nào đó được xem là bị ảnh hưởng của bão, người ta căn cứ vào tốc độ gió mạnh và hiện tượng thời tiết nguy hiểm ở khu vực đó khi bão đổ bộ hoặc ngay cả khi bão mới đến gần khu vực đó. Do vậy có thể hiểu về cơ bản bão đổ bộ thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng còn bão ảnh hưởng thì chưa chắc đã đổ bộ.
Bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam được chia thành 2 loại: ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp:
- Ảnh hưởng trực tiếp: Bao gồm tất cả các cơn bão và ATNĐ có tâm đi vào đất liền hoặc không đi vào đất liền nước ta nhưng trực tiếp gây ra gió mạnh từ cấp 6 trở lên.
- Ảnh hưởng gián tiếp: Bao gồm tất cả các cơn bão và ATNĐ khi tới gần bờ biển nước ta đã suy yếu nhiều nên khi tâm đi vào đất liền hoặc chuyển hướng đi hướng khác, hoặc tan rã ngay tại chỗ và chỉ gây ra gió yếu (cấp 5) và gây mưa to đến rất to trên diện rộng.
Câu 18: Sai số trung bình trong dự báo vị trí tâm bão hiện nay như thế nào ?
Theo số liệu thống kê mới nhất đã công bố trong “Báo cáo tại hội thảo quốc tế lần thứ VI về xoáy thuận nhiệt đới” tháng 12/2006 tổ chức tại San Jose, Costa Rica của Ủy ban Bão vùng Tây bắc Thái Bình Dương thuộc WMO thì sai số dự báo trung bình trong 5 năm (2001-2005) của một số Trung tâm dự báo bão lớn trên thế giới như sau:
Thời hạn DB
Tên nước        
Dự báo 24h Dự báo 48h Dự báo 72h
Mỹ 128 km 220 km 356 km
Nhật 128 km 232 km 350 km
Trung Quốc 133 km 228 km 362 km
Hồng Kông 131 km 232 km 355 km
Ở đây, sai số dự báo được hiểu là sai số của vị trí tâm bão dự báo so với vị trí tâm bão thực tế sau 24h, 48h và 72h. Đây là sai số trung bình cho tất cả các lần ra bản tin dự báo đối với tất cả các cơn bão xảy ra trong năm. Thông thường, đối với các cơn bão có hướng di chuyển và tốc độ di chuyển ổn định thì sai số dự báo tương đối nhỏ (dưới 100km trong thời hạn dự báo 24h); đối với các cơn bão có hướng và tốc độ di chuyển không ổn định, hoặc đổi hướng thì sai số thường lớn hơn nhiều.
Số liệu thống kê mới nhất về sai số dự báo vị trí trung tâm của bão trong năm 2007 của Việt Nam và một số Trung tâm lớn trong khu vực như sau:
Thời hạn DB
Tên nước        
Dự báo 24h Dự báo 48h Dự báo 72h
Mỹ 112 209 310
Nhật 126 190 219
Trung Quốc 140 224 296
Hồng Kông 121 146 172
Việt Nam 127 210  
Ghi chú: Việt Nam trong năm 2007 chưa dự báo đến 72h nên không có số liệu sai số cho vị trí tâm bão 72h.
 
Câu 19: Tại sao bão xuất hiện chủ yếu vào mùa Hè và mùa Thu?
Thời gian hoạt động chính trong năm của bão, áp thấp nhiệt đới là vào mùa Hè và mùa Thu: từ tháng 6 đến tháng 11 (ở Bắc Bán Cầu) và tháng 12 đến tháng 3 năm sau (ở Nam Bán Cầu). Bão xuất hiện nhiều nhất vào mùa Hè và mùa Thu, vì vào thời gian này có đầy dủ các điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát triển của bão: Nhiệt độ nước biển cao (ít nhất là từ 26oC trở lên), khí quyển vùng nhiệt đới khá thuận lợi cho sự phát triển đối lưu và chuyển động xoáy qui mô lớn xảy ra khá mạnh mẽ.
Người ta cho rằng bão hoạt động nhiều nhất vào thời kỳ có bức xạ mặt trời lớn nhất (cuối tháng 6 đối với vùng nhiệt đới Bắc Bán Cầu và cuối tháng 12 đối với vùng nhiệt đới Nam Bán Cầu), nước biển cần một thời gian khá dài để đạt được nhiệt độ nóng nhất. Cùng thời gian này hoàn lưu khí quyển vùng nhiệt đới cũng hoạt động mạnh mẽ nhất (thuận lợi cho sự hình thành và phát triển bão và áp thấp nhiệt đới). Vào thời gian này, vùng biển nhiệt đới và hoàn lưu khí quyển tương tự với chu trình ngày của nhiệt độ không khí bề mặt – nhiệt độ cao nhất vào khoảng quá trưa, và bức xạ mặt trời lớn nhất vào buổi trưa.
Câu 20: Quy luật chung của bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào ?
Theo số liệu thống kê nhiều năm thì trung bình hàng năm có khoảng 5 - 6 cơn bão và 2 - 3 ATNĐ ảnh hư­ởng đến Việt Nam. Mùa bão bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 11 và nửa đầu tháng 12. Bão thường tập trung nhiều nhất trong các tháng 8, 9, và 10.
Hướng di chuyển trung bình của bão cũng khác nhau theo mùa. Thời kỳ nửa đầu mùa bão, quỹ đạo bão có hướng Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc, thư­ờng đổ bộ vào Đông Nam Trung quốc, Nhật Bản. Thời kỳ sau quỹ đạo thiên h­ướng Tây về phía Việt Nam. Trung bình, từ tháng 1 - 5, bão ít có khả năng ảnh hưởng đến Việt nam. Từ tháng 6 - 8, bão có nhiều khả năng ảnh hưởng đến Bắc Bộ. Từ tháng 9 - 11, bão có nhiều khả năng ảnh hưởng đến Trung Bộ và Nam bộ.
Ở nửa đầu mùa bão, quỹ đạo của bão ít phức tạp, và ngược lại, bão thường di chuyển phức tạp trong nửa cuối mùa bão. Quĩ đạo của bão trong Biển Đông có thể được chia thành 5 dạng chính: ổn định, phức tạp, parabol, suy yếu trên biển và mạnh lên gần bờ. Trong số đó, dạng phức tạp và mạnh lên gần bờ là khó dự báo nhất. Hơn nữa, khu vực Biển Đông chịu sự chi phối của nhiều hệ thống thời tiết khác nhau nên càng làm cho việc dự báo phức tạp hơn.
Lưu ý rằng, các đặc điểm trên đây là những tính chất trung bình đặc trưng nhất. Trong mỗi năm cụ thể, sự xuất hiện và tính chất quĩ đạo bão có thể khác nhiều so với các giá trị trung bình này.

Hình 6. Hình minh họa khu vực ảnh hưởng của bão theo thời gian
 
Câu 21: Tại sao bão, áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành trên vùng biển có nhiệt độ 26 – 270C trở lên ?
Như chúng ta đều biết bão, áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành và phát triển một cách tương đối nhờ vào 2 điều kiện cơ bản là điều kiện nhiệt lực (nhiệt độ và độ ẩm đủ lớn) và điều kiện động lực (chuyển động xoáy vào tâm của khối không khí xung quanh tâm bão)
Bão có thể được xem như một cỗ máy, khi điều kiện động lực được đảm bảo tức là làm cho khối không khí xung quanh tâm bão chuyển động xoáy vào tâm thì cỗ máy hoạt động. điều kiện nhiệt lực chính là cơ sở để duy trì cho cỗ máy đó tồn tại và phát triển. Nét đặc trưng nổi bật của bão là có lõi nóng. Sự phát triển và duy trì lõi nóng có tầm quan trọng sống còn đối với sự phát triển và tuổi thọ của bão. Do vậy trong quá trình vận động và phát triển nó cần có không khí nóng và giàu hơi ẩm làm nguồn năng lượng chính. Nguồn năng lượng này chỉ được đảm bảo trên các đại dương và vùng biển thoáng.
Vào năm 1948, nhà khí tượng Erik Palmen đã tìm ra rằng, bão và áp thấp nhiệt đới chỉ có thể hình thành và phát triển khi nhiệt độ nước biển phải đạt ít nhất 26 - 27oC. Giá trị nhiệt độ 26 - 27oC đảm bảo cho khả năng bốc hơi mạnh làm cho đối lưu có thể phát triển. Mặt khác phải ở trên vùng biển thoáng khi đó mới đảm bảo điều kiện giàu hơi ẩm cung cấp cho quá trình đối lưu trong bão. Điều này cũng giải thích tại sao bão, áp thấp nhiệt đới không thể hình thành trên các vùng biển có dòng hải lưu lạnh và mùa bão thiên về thời kỳ cuối mùa nóng khi nhiệt độ mặt nước biển là cao nhất.
Câu 22: Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay, có thể vô hiệu hóa các cơn bão từ xa được không ?
Nghe qua thì quả là ý tưởng kỳ diệu: Chỉ việc thổi tung các cơn bão nhiệt đới như Rita và Katrina ra khỏi bầu trời trước khi chúng đặt chân lên mặt đất. Song các nhà khí tượng học cho hay đó chỉ là ước mơ hoang đường, và họ đã từ bỏ tham vọng đó nhiều năm trước đây sau hơn 2 thập kỷ nghiên cứu. "Điều đó không khác gì với việc cố di chuyển một chiếc xe hơi bằng ống thổi. Năng lượng tiềm ẩn trong một cơn bão biển mạnh hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể tích lũy được", Matthew Kelsch thuộc Trung tâm quốc gia nghiên cứu khí quyển tại Boulder (Mỹ) nhận định.
Chương trình nghiên cứu đánh lệch hướng bão đã được đề ra ngay từ thời Tổng thống Eisenhower, có tên Dự án Stormfury. Trong dự án Stormfury, các nhà khoa học đã rải tinh thể iod bạc lên các cơn bão. Iod bạc - hoá chất đóng vai trò là nhân băng - được rắc lên các đám mây ngay bên ngoài mắt bão. Ý tưởng của họ là một vành mây mới sẽ được hình thành xung quanh nhân của các hạt băng nhân tạo. Vành mây này sẽ làm thay đổi kiểu hình mưa, hình thành nên một mắt bão mới và phá huỷ mắt bão cũ. Cơn bão được điều chỉnh sẽ quay chậm hơn và do đó ít nguy hiểm hơn.
Để việc rắc iod bạc lên mây thành công, các đám mây buộc phải có một lượng đáng kể những hạt nước cực lạnh song vẫn ở trạng thái lỏng ngay ở nhiệt độ dưới 00C. Giọt nước mưa sẽ hình thành khi các nhân băng nhân tạo và hạt nước cực lạnh kết hợp với nhau. Song các nhà khoa học nhận thấy những cơn bão nhiệt đới chứa ít giọt nước cực lạnh hơn các đám mây bão thông thường, vì thế việc rắc tinh thể là không đáng tin cậy. Điều này khiến cho người ta không thể xác định được cơn bão giảm cấp là do tự thân nó hay là kết quả can thiệp của con người. Chính vì thế, Dự án Stormfury đã bị ngừng lại vào thập kỷ 1980.
Những giải pháp khác nhằm điều chỉnh bão cũng đã được tính đến, như làm lạnh vùng biển nhiệt đới bằng các khối băng để kiềm chế bão hình thành từ nước nóng bốc hơi trên biển. Đôi khi, một số người còn đề nghị cho nổ một quả bom hạt nhân để xé tan cơn bão. Song, các nhà nghiên cứu cho biết bão nhiệt đới biến tất cả những giải pháp trên thành "chú lùn". Chẳng hạn, với đường kính lên 600 kilomét, cần bao nhiêu băng đá mới hoá giải được cơn bão Rita! Hoặc trái bom nào vô hiệu hoá được năng lượng tương đương 50-200 nghìn tỷ watt? Nếu cần dùng đến bom nguyên tử để lấn át, thì con người phải cho nổ một trái bom hạt nhân 10 megaton cứ 20 phút một lần.
Câu 23: Tại sao gió mùa đông bắc cũng sinh ra gió mạnh cấp 7, nhưng ít nguy hiểm hơn gió trong áp thấp nhiệt đới ?
Nói đến bão, áp thấp nhiệt đới ai cũng nghĩ đến những trận gió mạnh, nhưng không phải bất cứ trận gió mạnh nào cũng là bão. Mùa đông những khi có không khí lạnh ở phương bắc tràn xuống thì gió mùa nổi lên. Những khi đó cũng có những cơn gió mạnh kèm theo ít nhiều mưa, có thể gây tai hại cho thuyền bè và mùa màng. Đó là những trận gió mà các nhà khí tượng gọi là cường phong. Trong các trận cường phong, gió tuy mạnh 50- 60 km/giờ, lại chỉ thổi một chiều gần như không thay đổi cho nên dễ tránh và dễ chống đỡ, nên ít nguy hiểm hơn bão, áp thấp nhiệt đới nhiều. Trong các cơn bão, áp thấp nhiệt đới, không những gió mạnh mà lại đổi chiều nên mức độ nguy hiểm gia tăng lên rất nhiều. Nhưng ta cũng cần nhớ không phải cơn gió đổi chiều nào cũng là áp thấp nhiệt đới, bão. Trong các cơn gió lốc, cơn dông cũng có thể có gió đổi chiều rất đột ngột, có thể đánh gãy cột cờ, đắm thuyền, tốc mái nhà. Những cơn gió đó khá nguy hiểm vì khó báo trước, nhưng chúng truyền đi không xa, chỉ có tác dụng trong một phạm vi tương đối nhỏ hẹp, khác với bão, áp thấp nhiệt đới là một vùng gió xoáy khổng lồ có đường kính dài hàng trăm cây số có thể quét cùng một lúc một vùng rộng lớn, lại truyền đi rất xa.
Câu 24: Một trong những nguy hiểm do bão, áp thấp nhiệt đới gây ra là hiện tượng nước dâng trong bão. Vậy hiện tượng đó như thế nào, mức độ nguy hiểm của nó ra sao ?
Gió thổi mạnh trong một thời gian khá lâu trên mặt biển thì lôi cuốn nước đi thành những luồng nước cùng chiều. Những luồng nước này vào gần bờ thì dồn nước lên làm cho mặt nước biển cao hơn ngày thường. Gặp lúc thủy triều lên thì  cộng hưởng sinh ra một “con nước lớn”. Ở các nơi mà các luồng nước bị chặn lại như ở các cửa biển hẹp thì nước lại lên cao hơn nữa. Hiện tượng này gọi là hiện tượng nước dâng do bão.
Như vậy, nước dâng do bão là lượng nước bị đẩy vào bờ do hoàn lưu gió mạnh của bão. Ở nước ta, nước dâng do bão thường xảy ra ở ven biển phía bắc của cơn bão. Lượng nước này kết hợp với thuỷ triều tạo nên triều do bão, và có thể nâng mực nước lên đến hơn 5 mét. Thêm vào đó, sóng biển do gió mạnh gây nên cũng làm tăng thêm độ cao của mực nước. Nước dâng do bão có sức tàn phá hết sức nguy hiểm, đặc biệt là khi kết hợp với triều cường khi bão đổ bộ.
 Nói chung, bão càng mạnh thì nước dâng càng cao. Khu vực dân cư càng ở gần cung phần tư phía trước và bên phải (so với hướng di chuyển của bão), thì vùng cần sơ tán dân càng phải lớn. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn là không thể dự báo chắc chắn cường độ của bão khi đổ bộ và thời điểm đổ bộ có trùng với thời gian xảy ra đỉnh triều trong ngày hay không. Do đó, biện pháp phòng chống khẩn cấp thường được áp dụng là chuẩn bị phương án phòng tránh cho bão mạnh hơn cường độ bão được dự báo một cấp. Biện pháp này là cần thiết để giảm thiểu mất mát về người và tài sản.
Dòng chảy gây ra bởi nước dâng do bão kết hợp với tác động của sóng có thể phá vỡ đê biển, làm sụt lở bờ biển và các đường giao thông ven biển. Ở các khu vực bị nước dâng tràn vào, sự xâm nhập của nước mặn gây nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng, phá hoại môi trường và đất canh tác.
 
Câu 25: Có phải vùng khí áp thấp nhất ở trung tâm bão gây ra nước dâng do bão hay không ?
Không hoàn toàn là như vậy.
 
storm surge comparison
 
Nhiều người cho rằng khoảng không ở trung tâm bão (mắt bão) làm cho nước biển dâng lên, vì vậy gây ra những đợt nước dâng do bão tàn phá khi chúng đổ bộ. Tuy nhiên tác động này cũng có thể xảy ra, nhưng độ cao nước dâng rất thấp. Ví dụ như: độ cao nước dâng do tâm xoáy thuận nhiệt đới có khí áp trung tâm là 900mb gây nên chỉ khoảng 1m, trong khi đó tổng độ cao nước dâng do bão cường độ đó có thể lên tới 6 – 10m hoặc hơn nữa. Phần lớn (85%) các đợt nước dâng do bão là do gió đẩy bề mặt đại dương về phía trước của một cơn bão (ở phía bên phải quỹ đạo của nó đối với Bắc Bán Cầu và ở phía bên trái quỹ đạo đối với Nam Bán Cầu).
Gradien khí áp (tính từ trung tâm xoáy thuận nhiệt đới đến rìa ngoài mây bão) quyết định sức gió, khí áp trung tâm xác định một cách gián tiếp độ cao của nước dâng do bão. Cũng lưu ý rằng mỗi đợt nước dâng do bão đều phụ thuộc vào địa hình bờ biển, góc hợp với bờ biển khi nó đổ bộ, tốc độ di chuyển của xoáy thuận nhiệt đới cũng như sức gió.
Câu 26: Có phải bão càng mạnh thì gây ra mưa càng lớn phải không?
Bão lôi cuốn một khối không khí ẩm rất lớn cho nên sinh ra nhiều mưa. Bão vào địa phận nước ta gặp ngay rừng núi chặn ngang, hơi nước bị cản lại; bão không vào xa được mà tan mau, và trong khi tan thì gây ra mưa rất lớn có thể kéo dài vài ba ngày.
Thí dụ cơn bão tháng 9/1927 đổ bộ  vào Thanh Hoá đã gây ra mưa rất lớn ở Bắc Bộ. Riêng ở Đài khí tượng Phủ Liễn trong 4 ngày từ 20 đến 23 đã mưa tới 1023mm, lượng mưa ngày 21 là 604mm, có giờ mưa tới 110mm. Đó là trận mưa rất lớn. Không phải bão to thì nhiều mưa, bão nhỏ thì mưa ít hơn. Có bão gió không mạnh lắm mà mưa rất nhiều. Mưa nhiều hay ít còn tùy vào tốc độ di chuyển của bão, nếu như cơn bão lớn và chuyển động chậm thì lượng mưa gây nên sẽ lớn hơn nhiều. Mưa nhiều hay ít còn tùy thuộc mùa, bão cuối mùa nghĩa là vào tháng 9, 10, 11 thì hay mưa nhiều.
Mưa lớn nhất thường xảy ra dọc theo bờ biển, nhưng đôi khi cũng có thể có vùng mưa lớn thứ hai ở trong đất liền. Khu vực mưa lớn thường nằm ở phía bên phải của đường đi của bão và thường xảy ra từ khoảng 12 giờ trước cho đến 12 giờ sau khi bão đổ bộ. Lượng mưa phụ thuộc vào kích thước của bão, tốc độ di chuyển và việc tương tác của bão với các hệ thống khác. Sự tương tác của bão khi gặp phải gió mùa đông bắc có kèm theo front lạnh có thể gây nên tố lốc và mưa rất lớn.   
Tùy theo cường độ, tốc độ di chuyển và giai đoạn phát triển, nhưng hầu hết các cơn bão gây nên mưa lớn tập trung trong vùng bán kính từ 100 - 200 km quanh mắt bão, mưa lớn có thể xảy ra trong vài ba ngày với cường suất giảm dần. Mưa bão thường gây ngập úng nhiều khu vực, lũ lớn trên các triền sông.
Câu 27: Những nguy hiểm do gió mạnh trong bão, áp thấp nhiệt đới gây ra như thế nào ?
Gió mạnh cấp bão (từ cấp 8 trở lên) có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người. Vì thế, cần thiết phải thực hiện sơ tán hoặc trú ẩn trước khi có gió mạnh cấp bão xảy ra. Cần nhớ rằng gió mạnh có thể bắt đầu từ khi tâm bão còn cách xa địa phương nơi bạn ở hàng trăm kilômét. Đặc biệt gió mạnh trong bão còn kèm theo gió giật (thực tế trong nhiều cơn bão thì gió giật lớn hơn gió mạnh trung bình trong bão khoảng 2 – 3 cấp), rất nguy hiểm và có sức tàn phá lớn. Gió mạnh trong bão có thể dễ dàng làm đổ các nhà xưởng không kiên cố, nhà tạm, nhiều mảnh vỡ (các biển báo, mái nhà…) bị gió thổi bay và trở thành vật nguy hiểm. Hơn nữa, cây đổ, cột điện đổ, các hệ thống đường ống ngầm có thể bị hỏng (do cây bị bật rễ) là những nguy hiểm gây thiệt hại đáng kể.
Càng lên cao gió bão càng mạnh, nên các nhà cao tầng cũng dễ bị thiệt hại bởi gió mạnh trên cấp 12, đặc biệt ở những tầng cao. Các nghiên cứu gần đây đề xuất là chỉ nên ở các tầng dưới tầng 10 (nhưng ở trên mực có thể bị ngập nước do lũ lụt). Cửa sổ của các nhà cao tầng rất có nguy cơ bị bật ra, do đó khu vực xung quanh các nhà cao tầng cũng có thể rất nguy hiểm.
Gió mạnh nhất thường xảy ra ở ngay phía bên phải của thành mắt bão. Gió bão thường suy giảm đi nhanh chóng khoảng 12 giờ sau khi bão đổ bộ. Tuy nhiên, có trường hợp gió vẫn có thể giữ được trên cấp 12 ngay cả khi bão đã vào sâu trong đất liền. Khi bão đi qua, có một thời gian lặng gió từ 10 - 20 phút rồi gió chuyển sang hướng ngược lại - chính cơn gió sau này gây nguy hiểm hơn cơn gió trước đó vì đổi chiều và mạnh hơn.
 
 
Câu 28: Trong các cơn dông tôi thường thấy sinh ra tố, lốc, mưa đá. Bão cũng có thể coi là một cơn dông có quy mô rất lớn, vậy bão có thể gây nên tố, lốc hay không ?
Các cơn bão mạnh cũng có thể gây nên tố, lốc làm tăng thêm mức độ tàn phá của bão. Tố, lốc thường xảy ra ở cung phần tư phía trước bên phải (so với hướng di chuyển) của bão. Tuy nhiên, chúng cũng có thể xảy ra trong các dải mưa cách xa tâm bão.
Hiện tại, chúng ta chưa có phương pháp nào để xác định xem cơn bão có tạo nên tố lốc hay không, hoặc chúng sẽ xảy ra ở vị trí nào. Vì thế, cách duy nhất có thể làm là sẵn sàng phòng chống.
Một số đặc điểm của tố lốc trong bão:
+ Tố lốc trong bão thường không kèm theo mưa đá và sấm sét.
+ Tố lốc có thể xảy ra vài ngày sau khi bão đổ bộ, khi mà bão chỉ còn là một vùng thấp có hoàn lưu xoáy thuận.
+ Chúng có thể phát triển bất cứ thời gian nào trong ngày trong lúc bão đổ bộ. Tuy nhiên, sau khi bão đổ bộ khoảng 12 giờ, tố lốc thường xuất hiện vào ban ngày.
Câu 29: Một số lưu ý đối với những người sống và làm việc trên biển khi có phát tin cảnh báo bão ?
Ở nước ta, do đặc thù phần lớn những người bị ảnh hưởng trực tiếp của bão thường xảy ra đối với dân chài và các thuyền đánh cá nhỏ, có tốc độ không lớn và không chịu được sóng gió lớn, việc đưa ra các thông tin và hướng dẫn đúng đắn nhằm giúp họ lánh nạn là rất cần thiết.
+ Phải có các hiểu biết cơ bản về bão, biết cách diễn giải các bản tin cảnh báo và dự báo bão.
+ Theo dõi chặt chẽ các bản tin cảnh báo, dự báo bão.
+ Không ra khơi khi đã có cảnh báo ảnh hưởng của bão.
+ Neo đậu tàu thuyền ở nơi an toàn. Lưu ý rằng, nhiều khi neo tàu thuyền ở cảng không hẳn là phương án tốt nhất nếu như cảng đó nằm ở phía trước bên phải của cơn bão đang đổ bộ tới, và cách tâm bão đổ bộ khoảng từ 70 - 200km, vì đó là nơi có gió mạnh nhất và nhiều khả năng xảy ra tố lốc nhất. Tuy nhiên, quyết định rời cảng đó để đi neo đậu ở nơi khác phải được thực hiện rất sớm, và có tính toán kỹ lưỡng về tốc độ di chuyển của tàu cũng như của cơn bão và quĩ thời gian còn lại trước khi chịu ảnh hưởng của bão. Hơn nữa, cũng phải tính đến khả năng tốc độ của tàu không được như lý tưởng vì ảnh hưởng của sóng và gió khi có ảnh hưởng của bão.
 + Nếu tàu thuyền đã neo đậu ở cảng, các kiến thức địa phương về tính chất khí hậu của bão tại vùng đó, và ước lượng về hướng gió sẽ thổi tới cũng là cần thiết để đưa ra quyết định neo đậu ở nơi an toàn (như ở phía nào của cầu tàu). Mặt khác, các ảnh hưởng của nước dâng do bão cũng cần được xem xét ước lượng. Thêm vào đó, việc neo đậu các tầu thuyền sát nhau cũng phải được cân nhắc kỹ lưỡng, đề phòng trường hợp bị đứt neo (do ảnh hưởng của gió bão) có thể xô vào các tàu thuyền bên cạnh.
Câu 30: Đối với những người trên đất liền, cần phải chuẩn bị gì khi nghe thấy tin cảnh báo bão ?
Chuẩn bị trước mùa bão
+ Chuẩn bị trước các phương án sơ tán ở các khu vực có nhiều khả năng chịu ảnh hưởng nặng nề của bão (các vùng ven biển có tần suất bão đổ bộ cao).
+ Chuẩn bị dự trữ những đồ thiết yếu như lương thực, đồ sơ cứu y tế,...
+ Cắt những cành chết hoặc yếu
+ Kiểm tra, gia cố các đường dây điện trần, cột điện ngoài trời.
+ Gia cố cửa sổ, mái ngói.
Chuẩn bị khi có cảnh báo bão có khả năng ảnh hưởng
+ Theo dõi chặt chẽ các bản tin cảnh báo và dự báo bão
+ Kiểm tra lương thực, nước uống dự trữ.
+ Cất dọn những đồ vật nhẹ, ở ngoài nhà và trên đường phố có thể biến thành “vũ khí bay” khi có gió bão.
Trong khi có bão
+ Cất tất cả các đồ quan trọng, giấy tờ vào các hộp không thấm nước, cất ở    nơi cao nhất của nhà.
+ Ở trong nhà, tránh cửa sổ, đèn đường và các cửa kính
Câu 31: Khi đang hoạt động đánh bắt cá trên biển, gặp tin cảnh báo bão, làm cách nào có thể xác định được một cách tương đối vị trí của tàu so với hướng di chuyển của bão ?
Điều căn bản cần biết để thoát khỏi ảnh hưởng của bão ở trên biển là xác định được vị trí tâm bão và hướng và tốc độ di chuyển của bão. Các thông tin này được truyền phát trên các Đài Phát thanh, Đài Truyền hình của trung ương cũng như địa phương và Đài Phát thanh Duyên hải. Tuy nhiên, trong trường hợp những thông tin này không có được, các quan sát tại chỗ trên tàu như trình bày dưới đây sẽ giúp người đi biển quyết định được “đường thoát”.

 
 

Xác định vị trí của tàu tương đối so với cơn bão
         Sự thay đổi của hướng và tốc độ gió cùng với thay đổi áp suất kế trên tàu là các thông tin quan trọng nhất nhằm xác định vị trí của tàu so với hoàn lưu cơn bão.
         - Gió chuyển hướng sang phải theo thời gian: tàu đang ở nửa bên phải (so với hướng chuyển động) của bão.
         - Gió chuyển hướng sang trái theo thời gian: tàu đang ở nửa bên trái (so với hướng chuyển động) của bão.
         - Nếu hướng gió không đổi nhưng mạnh dần lên, tàu có thể đang ở ngay phía trước của cơn bão. Thêm vào đó, nếu tàu đang thực sự nằm ở trước bão, áp suất sẽ liên tục giảm, có thể với tốc độ rất nhanh khi hệ thống đang tiến đến gần.
         - Ngược lại, nếu hướng gió không đổi và yếu dần đi, nghĩa là có nhiều khả năng tàu đã nằm ở sau cơn bão, lúc này áp suất sẽ tăng đều.
Câu 32: làm thế nào để xác định tàu đang ở nửa bên phải chuyển động của bão ? Trong trường hợp tàu ở nửa bên phải chuyển động của bão nên làm gì ?
Khi nghe thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng có một cơn bão đang tiến về phía bờ biển (về phía tàu), nếu quan sát thấy gió có hướng từ Đông Nam đến Đông Đông Bắc thì phải đoán ngay là tàu đang nằm ở nửa bên phải của bão, hoặc quan sát trong vài chục phút đến vài giờ thấy gió đổi hướng từ trái qua phải thuận theo chiều kim đồng hồ (tức từ Tây Bắc quay sang Bắc rồi Đông Bắc), khí áp liên tục giảm, tốc độ gió tiếp tục tăng lên là ta biết rằng tàu đang ở bên phải của bão.
Trong trường hợp này, phải nhanh chóng mở hết tốc lực điều khiển tàu chạy ngược gió sao cho gió thực thổi chéo phía trước vào mũi tàu lệch mạn phải một góc 30 - 45 độ, dựa trên la bàn cố giữ lái cho tàu chạy theo hướng đó cho đến khi còn có thể lái được, thấy gió đổi hướng về phía sau tàu được khoảng trên 90 độ và thấy mây, mưa giảm dần, rồi tiếp tục chạy ra khỏi vùng nguy hiểm của bão cho đến khi thật sự an toàn. Nếu tàu máy yếu hoặc không thể nào lái được nữa, tàu cứ bị cuốn vào gần tâm bão thì cố để nổ máy phải lựa và gối sóng thế nào để luôn luôn có gió thực thổi vào bên mạn phải của tàu.
Câu 33: làm thế nào để xác định tàu đang ở nửa bên trái chuyển động của bão? Trong trường hợp tàu ở nửa bên trái chuyển động của bão nên làm gì ?
Khi thấy gió có hướng trong khoảng từ Tây Bắc đến Tây Tây Nam, hoặc quan sát trong vài chục phút thấy gió đổi hướng từ phải sang trái ngược chiều kim đồng hồ (tức là gió Tây Bắc quay sang Tây Tây Bắc rồi Tây Tây Nam), khí áp tiếp tục giảm, tốc độ gió tiếp tục tăng là ta có cơ sở đoán rằng tàu đang nằm ở nửa bên trái của bão, tức là nửa vòng đi được. Tuy mức độ nguy hiểm không bằng nửa bên phải, nhưng vẫn còn đe dọa đối với sự an toàn của con tàu.
Trong trường hợp này phải nhanh chóng cho tàu ra xa tâm bão, muốn lợi dụng sức gió đẩy tàu về phía sau để thoát ra khỏi vùng bão nhanh chóng, ta phải điều khiển con tàu chạy xuôi theo chiều gió sao cho gió thực thổi vào đuôi tàu lệch mạn phải một góc 30 - 45 độ, dựa vào la bàn giữ lái cho tàu đi theo hướng ấy cho đến khi còn có thể lái được. Khi thấy gió chuyển sang chính ngang mạn tàu rồi lại chuyển sang thổi vào trước mũi tàu làm cho tàu bị lắc dữ dội thì ta phải điều chỉnh lại hướng tàu sau cho gió thực thổi sau lái để đưa tàu nhanh chóng vượt sang góc phía sau, chạy cho đến khi gió chuyển sang hướng nam mới bớt nguy hiểm.
Câu 34: Làm thế nào để biết được tàu đang ở chính diện, ngay trên đường đi tới của bão ? Trong trường hợp này nên làm gì ?
Nếu quan sát thấy hướng gió Tây Bắc và hầu như không đổi, khí áp tiếp tục giảm mà tốc độ gió càng lúc càng mạnh thêm, mây càng dày đặc tức là bão đang tiến về phía tàu. Trong trường này lập tức mở hết tốc lực, nhanh chóng chạy xuôi theo gió, đưa tàu sang nửa bên trái sao cho gió thổi vào đuôi tàu lệch mạn phải. Sau đó tiếp tục đưa tàu thoát khỏi bão như trường hợp trên.
Trường hợp không may nếu con tàu bị lọt vào vùng tâm bão thì việc quan trọng là thuyền trưởng và toàn bộ thuyền viên phải dũng cảm, hết sức bình tĩnh, đoàn kết và tuân theo lệnh của thuyền trưởng, đối phó với mọi tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Sự bình tĩnh này có thể cứu được con tàu trong cơn nguy hiểm chết người.
 Do ở gần tâm bão gió rất mạnh, mưa rất lớn, tầm nhìn rất xấu, biển động rất dữ dội, sóng biển hỗn độn tung ra mọi hướng, nên việc điều khiển con tàu lúc này rất khó khăn. Nếu có điều kiện nên thả dầu nhờn (tốt nhất là dầu cặn, càng đặc càng tốt)  ép sóng, cách thả dầu là mỗi giờ thả khoảng 3 - 4 lít, trong vòng 15 - 20 giờ liên tục. Để làm dịu bớt sức đập của sóng. Khi cần thì nên vứt bỏ bớt những thứ hàng hóa và thiết bị nặng nề, cồng kềnh để tăng thêm thế cân bằng cho con tàu. Đối với tàu tốt, có cân bằng thật tốt, có thể thả trôi sao cho mạn phải tàu quay về hướng sóng gió, để khi biển động mạnh ít bị nước  tràn lên boong và hạn chế sức đập dữ dội của sóng vào mạn tàu.
 
 
 
 
 
 
 
 

Câu 35: Anh (chị) có thể cho biết phương án khả thi nhất để cho tàu thoát khỏi một cơn bão ?

               
   
 
 
   
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

          Hướng lái tàu để thoát khỏi bão:
+ RF và RR: để gió cắt mạn thuyền phải một góc 450
+ LF và LR: để gió cắt mạn thuyền phải một góc 1350
+ A: để gió cắt mạn thuyền phải một góc 1600
Một khi đã xác định được vị trí của tàu tương đối so với hệ thống bão, người đi biển có thể lái tàu theo các phương án thoát như sau.
+ Nếu tàu đang ở nửa bên phải của bão, đi theo hướng sao cho gió cắt 450 với mạn phải của tàu và phóng hết tốc lực.
+ Nếu tàu đang ở ngay phía trước bão (điểm A trên hình), phải lái tàu theo hướng sao cho gió cắt khoảng 1600 với phần mạn thuyền bên phải cho đến khi tàu chuyển sang nằm ở nửa bên trái của bão.
+ Các tàu nằm ở phía nửa trái của bão phải lái sao cho gió cắt mạn tàu bên phải một góc 1350, chạy với tốc độ lớn nhất để thoát khỏi bão.
+ Đối với tàu nằm ở phía sau của bão, chọn hướng và tốc độ tốt nhất để thoát xa khỏi bão.
Điều cần nhấn mạnh ở đây là sóng trong bão rất phức tạp, dễ gây nhầm lẫn và đặc biệt nguy hiểm vì có thể có đến 3 thành phần sóng khác nhau tác dụng cùng một lúc. Đặc biệt đối với phần bên phải phía sau bão (tương đối so với hướng chuyển động của bão, được ký hiệu là RR trong hình)
Câu 36: Trong các đám mây dông thường quan sát thấy nhiều sấm, chớp. Bão là một khối không khí khổng lồ chứa rất nhiều các ổ mây dông, như vậy sẽ quan sát được rất nhiều sấm chớp phải không ?
Thật lạ, không có nhiều tia chớp xuất hiện ở lõi trong của trung tâm bão, áp thấp nhiệt đới (trong phạm vi khoảng 100km). Khi quan sát ở thành mắt bão của cơn bão rất mạnh Andrew, các nhà khí tượng Mỹ chỉ đếm được có khoảng trên dưới 12 tia chớp từ các đám mây xuống mặt đất trong mỗi giờ xảy ra xung quanh thành mắt bão, trái ngược hoàn toàn với đối lưu qui mô vừa trên mặt đất ở vùng vĩ độ trung bình, ở đó có thể quan trắc được khoảng trên 1000 tia chớp mỗi giờ và duy trì trong nhiều giờ.
Sở dĩ chỉ quan sát được số lượng rất ít các tia chớp ở lõi trong của bão, áp thấp nhiệt đới là do dông ở khu vực thành mắt bão tương đối yếu. Do thiếu sự đốt nóng bề mặt đại dương và do bản chất xoáy thuận nhiệt đới có lõi nóng, lực nổi yếu không đủ để tạo dòng thăng. Dòng thăng yếu dẫn đến sự thiếu hụt nước siêu lạnh (nước có nhiệt độ dưới 00C), nhân tố quyết định sự phát triển dông nhờ sự tương tác giữa các tinh thể băng có trong nước lỏng. Sấm, chớp thường quan sát thấy nhiều ở bên ngoài khu vực tâm bão (trên 100 km) do có sự kết hợp với các dải mưa đối lưu mạnh.
Các nghiên cứu về chớp gần đây cho thấy một trong những khả năng kích động là sự thay đổi của sự va chạm ở lõi trong bão - mặc dù số lượng các va chạm thường khá thấp – Đây có thể là một công cụ hữu ích để dự báo sự mạnh lên của xoáy thuận nhiệt đới. Nghiên cứu của Black (1975) đưa ra sự bùng nổ đối lưu ở lõi trong bão thường đi kèm với sự tăng hoạt động của các điện tích, có thể chỉ ra rằng cường độ của xoáy thuận nhiệt đới sẽ sớm mạnh lên. Qua phân tích hoạt động của các cơn bão mạnh: Diana (1984), Florence (1988) and Andrew (1992)...các nhà khoa học Mỹ đã chỉ ra rằng điều này luôn luôn đúng.
Câu 37: Hiện nay công nghệ Radar thời tiết trên thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kể, việc phát hiện vòi rồng trong các đám mây dông là dễ ràng, tuy nhiên vòi rồng xuất hiện trong bão lại rất khó phát hiện. Tại sao ?
Vòi rồng trong bão thường sinh ra một cách bất thường trong các ổ mây dông nhỏ. Các ổ dông này thường không xuất hiện trong vùng thời tiết đặc biệt nguy hiểm có thể quan sát được trên màn hình radar thời tiết, đặc biệt là khi khoảng cách của chúng đến radar khoảng trên 100km (mặc dù đây là bán kính hiệu dụng radar có thể quan sát tốt mọi vật).
Ngoài ra, xoáy lốc sinh ra trong các ổ mây dông nhỏ này thường có xu hướng gây ra ít sấm chớp hoặc không gây ra sấm và chớp, và ít có khả năng đe doạ đến con người. Hơn nữa, vòi rồng thường bị mờ đi do mưa, và các ổ mây dông sinh ra chúng thường di chuyển nhanh theo sự di chuyển của hệ thống mây bão nên có quá ít thời gian để chúng ta có thể phát hiện ra chúng.
Câu 38: Tại sao xoáy thuận nhiệt đới lại sinh ra vòi rồng ?
Cũng giống như các hệ thống sinh ra vòi rồng khác, xoáy thuận nhiệt đới  (bão, áp thấp nhiệt đới) sinh ra vòi rồng khi quan sát thấy độ bất ổn định của khí quyển và độ đứt thẳng đứng của gió ở các tầng tồn tại cùng một lúc. Tuy nhiên cấu trúc thẳng đứng của khí quyển trong bão, áp thấp nhiệt đới tồn tại ở vùng nhiệt đới lại có một số điểm khác so với hầu hết các hệ thống thường thấy ở vĩ độ trung bình.
 Cụ thể là ở vùng nhiệt đới, hầu hết quá trình bất ổn định nhiệt xuất hiện ở gần độ cao 3000m hoặc thấp hơn độ cao này, trái ngược so với các hệ thống vùng vĩ độ trung bình, các hệ thống này có độ bất ổn định mạnh nhất ở độ cao trên 6000m. Chính vì độ bất ổn định trong hệ thống xoáy thuận nhiệt đới tập trung ở các vĩ độ thấp và ở độ cao thấp, do vậy các ổ mây dông có xu hướng nhỏ hơn và nông hơn so với các hệ thống ở vĩ độ trung bình. Nhưng độ đứt thẳng đứng trong hệ thống xoáy thuận (bão, áp thấp nhiệt đới) ở khu vực nhiệt đới cũng rất mạnh ở các vĩ độ thấp nên sự kết hợp của độ bất ổn định và độ đứt có thể trở nên thuận lợi để sinh ra các siêu ổ dông nhỏ. Chính các siêu ổ dông nhỏ này có nhiều khả năng sinh ra vòi rồng hơn so với các ổ dông thông thường.
Câu 39: Bão, áp thấp nhiệt đới khác với vòi rồng như thế nào ?
Cả bão, áp thấp nhiệt đới và vòi rồng đều là các xoáy sinh ra trong khí quyển, chúng đều là các hiện tượng không thường xuyên xảy ra.
Vòi rồng có đường kính hàng trăm mét và sinh ra từ một ổ dông đối lưu đơn lẻ (từ một ổ mây dông hoặc một ổ mây đối lưu).
Tuy nhiên một cơn bão, áp thấp nhiệt đới có đường kính lớn hơn gấp hàng nghìn lần so với kích thước của một vòi rồng (hàng nghìn km) và bao gồm rất nhiều các ổ mây đối lưu.
Ngoài ra, trong khi điều kiện lý tưởng để sinh ra vòi rồng là cần có độ đứt thẳng đứng của gió ngang (sự biến đổi của tốc độ gió và hướng gió theo chiều cao) lớn thì bão, áp thấp nhiệt đới chỉ cần một giá trị độ đứt gió thẳng đứng trong tầng đối lưu rất nhỏ (<10m/s) để hình thành và phát triển. Các giá trị độ đứt thẳng đứng này biểu thị bởi trường nhiệt độ cho mỗi hiện tượng: Vòi rồng được sinh ra trong những khu vực có gradient nhiệt độ lớn, trong khi đó bão, áp thấp nhiệt đới sinh ra trong những khu vực có gradient nhiệt độ ngang bằng không. Vòi rồng là hiện tượng chủ yếu hình thành trên đất liền khi mặt trời đốt nóng mặt đất, góp phần làm dông phát triển và sinh ra lốc xoáy (mặc dù vòi rồng cũng có thể xảy ra trên biển). Ngược lại, xoáy thuận nhiệt đới chỉ hình thành trên biển, chúng bị chết khi vào đất liền do mất đi nguồn ẩm đại dương cung cấp. Cuối cùng là  thời gian sống và tồn tại của bão, áp thấp nhiệt đới là nhiều ngày, trong khi đó vòi rồng chỉ tồn tại trong vài phút.
Một điều rất thú vị là các xoáy thuận nhiệt đới (bão, áp thấp nhiệt đới) khi đổ bộ thường tạo điều kiện thuận lợi để hình thành vòi rồng. Nguyên nhân do khi xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ, chúng bắt đầu suy yếu, gió bề mặt yếu đi nhanh hơn gió trên các tầng cao. Vì vậy sinh ra độ đứt gió thẳng đứng lớn. Đây chính là điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển vói rồng, đặc biệt là phía bên phải của xoáy thuận nhiệt đới (tính theo hướng chuyển động của chúng).
Câu 40: Gió mạnh trong vòi rồng lớn hơn rất nhiều so với gió mạnh nhất trong bão. Vậy mức độ thiệt hại do vòi rồng gây ra có lớn hơn bão không ?
Mặc dù gió mạnh nhất trong vòi rồng lớn hơn rất nhiều so với gió mạnh nhất trong bão, song mức độ thiệt hại do mỗi cơn bão gây ra và thiệt hại trong cả mùa bão là lớn hơn rất nhiều so với thiệt hại do vòi rồng. Các nhà khoa học Mỹ đã thống kê được rằng các cơn bão ảnh hưởng đến lục địa Mỹ gây thiệt hại trung bình khoảng 3 tỷ đô la mỗi lần đổ bộ, trong khi đó 1000 vòi rồng mạnh ảnh hưởng đến Mỹ mỗi năm gây thiệt hại ít hơn khoảng 10 lần, tức là tổng thiệt hại khoảng 500 triệu đô la.
Bão có xu hướng gây thiệt hại lớn hơn rất nhiều so với vòi rồng là do kích thước, thời gian tồn tại và cách tàn phá của chúng.
Bán kính của đường tròn thành mắt bão (vòng tròn xung quanh mắt bão lặng gió) rộng hàng chục km, và tồn tại hàng giờ, và khu vực bị ảnh hưởng sẽ bị tàn phá bởi nhiều yếu tố: nước dâng do bão, mưa lớn gây lũ lụt và do tác động của gió mạnh nhất trong bão.
Ngược lại, vòi rồng có bán kính chỉ khoảng 1km, thậm trí còn nhỏ hơn, thời gian tồn tại chỉ tính bằng phút và chúng chỉ phá huỷ bằng gió mạnh nhất sinh ra trên đường đi của chúng.
Câu 41: Khi tàu thuyền hoạt động trên biển, các thiết bị thông tin bị hỏng hóc, quan sát sóng biển có thể biết được bão đang đến gần hay không?
Kinh nghiệm dân gian sử dụng trong trường hợp này là rất hữu hiệu, có thể quan sát tình trạng biển để phán đoán có hoạt động của bão hay không và có khả năng bão đang đến gần hay không.
Trước khi bão đến, sóng biển bị gió bão thổi dồn thành từng đợt sóng lừng truyền đi trước bão 1500 - 2000km, nhưng rõ rệt nhất là khi tâm bão còn cách xa chừng 1000km, lúc đó chưa có dấu hiệu gì rõ rệt về áp suất và gió thể hiện trên các phương tiện đo. Sóng lừng do bão gây ra có hướng trùng với hướng di chuyển của bão. Sóng được truyền đi dưới tác dụng của gió có hướng khá ổn định.
Trong những ngày đẹp trời, êm gió đi biển mà thấy những đợt sóng lừng từng đợt lên xuống đều đặn với một tần số chỉ bằng một nửa tần số sóng thường, tròn đầu, cự ly giữa 2 đỉnh sóng rất dài (từ 200 - 300m) có vẻ hiền lành, im lặng, thứ tự nhịp nhàng thì cần đề phòng cẩn thận, theo dõi tình hình thời tiết liên tục vì có thể đó là một trong những dấu hiệu có cơn bão sắp tới (bình thường sóng thường có đầu nhọn, bước sóng ngắn khoảng 50 - 100m).
Câu 42: Quan sát mặt nước biển, hoặc hoạt động của các loài chim biển có thể biết được bão đang đến gần hay không ?
Khi bơi hay lặn xuống nước cảm thấy nước biển nóng hơn bình thường, đồng thời thấy cá chết nổi lềnh bềnh thì sắp có bão. Hoặc khi lặn xuống nghe có tiếng réo ầm ầm từ xa tới, tiếng réo phía nào thì bão ở phía đó. Bình thường trong những ngày trời yên biển lặng thì biển ít có tiếng động.
Khi ngoài biển có bão, gió to sóng lớn làm cho biển động réo ầm ầm, bà con ngư dân còn gọi là “Biển kêu”, do tiếng động truyền đi trong nước nhanh hơn trong không khí. Một dấu hiệu nữa là sóng bão dồn vào bờ làm cho nước biển có mùi hôi tanh (của các vật từ dưới đáy biển xông lên), điều này rất dễ nhận thấy và là một hiện tượng báo hiệu là sắp có bão. Hoặc những giống tôm cua nhỏ thường sống ở những hòn đá ẩm ướt trên bãi biển, trước khi bão đến chúng thường rúc vào những đám cỏ gần bờ biển, những con sứa trắng trong lập lờ gần mặt nước biển cũng từ từ bơi ngược ra ngoài khơi, các loài chim biển như hải âu, hải yến chuyên sinh sống ngoài biển, rất ít khi bay vào bờ, chỉ khi nào có bão chúng mới kéo nhau từng đàn, từng lũ  bay vào sâu trong đất liền lánh nạn, đó cũng là dấu hiệu ngoài khơi đang có bão.
Câu 43: Quan sát sự thay đổi khí áp, gió trong ngày có thể biết được bão đang đến gần hay không ?
Câu trả lời cho câu hỏi này là có.
Bình thường khí áp trong một ngày thay đổi khoảng từ 3 - 4 mb. Nhưng khi có bão đi qua thì khí áp thay đổi rất rõ ràng theo một qui luật khác hẳn. Trước khi bão tới còn cách xa 1000 - 2000 km khí áp giảm từ từ mỗi ngày chừng 1,0-2,5 mb. Nếu bão chỉ lướt qua một khoảng cách khá xa thì khí áp trở lại bình thường và giữ nguyên dạng áp triều. Nếu thấy áp triều bị phá vỡ, (tức là không lên trở lại như bình thường) mà tiếp tục giảm thì cần chuẩn bị chống bão, vì như thế bão còn cách ta khoảng 1000 km và trong một vài ngày tới bão có thể tràn tới. Bão càng tới gần thì khí áp giảm càng nhanh .
Khi khí áp giảm dần thì tốc độ gió cũng tăng lên đều từ 6 m/s - 12 m/s. Khi khí áp giảm nhanh thì tốc độ gió cũng tăng vọt lên đến 25 - 30m/s, có khi >35m/s. Lúc tâm bão đi qua thì tốc độ gió giảm xuống đột ngột, đôi khi gần như lặng hẳn. Sau một thời gian ngắn khi mắt bão đi qua thì gió tăng mạnh lên đến 40-50m/s với hướng ngược lại, sau đó giảm nhanh và dịu dần là bão đã qua.
Thường từ khi bão còn xa, đến gần tàu thì ta thấy gió chuyển hướng từ Tây Bắc - Bắc Tây Bắc và đến khi bão đi qua gió chuyển dần sang hướng Bắc Đông Bắc - Đông Bắc rồi sang Đông Nam. Khi gió chuyển sang hướng Nam báo hiệu là sắp hết bão.
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a